TAM NGUYÊN TRAN BÍCH SAN – MỘT NGƯỜI CON HIẾU THẢO, MỘT VỊ QUAN KHÍ TIẾT

Thời nhà nguyễn có ông trần bích san, sau khi

đậu Tam nguyên, làm quan ở Thăng Bình, Điện Bàn (Quảng Nam) một thời gian rồi vào làm tri phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định.

>>Luyện thi Violympic những mẹo hay nhất 2017

 

Một hôm, bà cụ thân sinh ra quan tri phủ Trần Bích San ở quê nhà, thấy có người đem đêri một cuộn lụa rất đẹp và nói:

  • Thưa cụ, con là lính hầu được quan phủ San sai mang món quà này về tặng cụ ạ!
  • >>Xem thêm tin tức giáo dục:Ở đây

Bà cụ nghe người lính hầu nói xong, sắc mặt nghiêm lại, thoáng có nét buồn. Bà cụ thầm nghĩ: “Trời ơi! Lụa này lấy ở đâu ra? Sao làm quan mà không biết thương kẻ dưới, bắt người ta phải vất vả trèo đèo lội suối bao nhiêu ngày để mang thứ này về nhà? Tệ quá!”.

Nghĩ vậy, nhưng cụ vẫn ân cần thăm hỏi người lính và mời anh ta ở lại chơi mấy hôm. Khi người lính lên đường trở về phủ An Nhơn, bà cụ chuẩn bị chu đáo mọi thứ để anh ta mang theo ăn đường. Không những thế, bà cụ còn chỉ cuộn lụa nói vỏi anh lính:

  • Chú đã vất vả mang cuộn lụa này về đây, nay xin chú vui lòng chịu khó đưa cuộn lụa này về trả lại giùm ông Phủ cho tôi!
  • Bẩm cụ, con xin vâng lời! – Người lính ngạc nhiên nhưng không dám chối từ.

Nói về tri phủ Trần Bích San, từ hôm sai lính mang quà về tặng mẹ trong lòng rất vui sướng. Hàng ngày, tri phủ rất mong người lính hầu trở về đế biết tin nhà. Hôm ngươi lính trở về, ông thân ra đón. Quan tri phủ ngạc nhiên đến sững sò khi nhìn thấy cuộn lụa mà người lính đem về. Hỏi ra, biết đây là ý của mẹ, ngưòi lính không thể làm khác. Tri phủ San tay run run cầm lấy cuộn lụa, ông bỗng tái mặt khi nhìn thấỵ có cây roi nhét ở trong!

Sáng hôm sau, ông lập bàn thò hướng về phương Bắc, lạy sông mẹ hai lạy rồi tự mình nằm úp sấp xuống nền nhà suốt từ sáng đến tổì, trên lưng để cây roi kia. Sau cùng, ông lại đứng lên lạy sống mẹ hai lạy nữa mới thôi.

 

Câu chuyện trên của mẹ con ông tri phủ Trần Bích San được lan truyền khắp nơi. Người ta nói vói nhau: “Có một người mẹ như thế, làm gì chảng sinh con như thế!”.

Trần Bích San sinh năm Nhâm Tuất 1838, mất năm Đinh Sửu 1877, hưởng dương 39 tuổi. Ông là con cụ Phó bảng Trần Đình Khanh, người làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay. Thuở nhỏ, San thông minh xuất chúng, nức tiếng thần đồng, sĩ tử từ Bắc Hà đến kinh đô Huế đều nghe tên nể mặt. Ông là học trò yêu của cụ Hoàng giáp tam đăng Phạm Văn Nghị và là đồng môn của Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến. Lúc mối nhập môn, ông lấy tên là Trần Tăng Tiểu, sau nhờ văn tài và đạo hạnh, được thầy học cải tên thành Trần Bích San.

Năm 26 tuổi, ông đỗ Giải nguyên trường thi hương Nam Định. Năm sau, vào kinh đô Huế ứng thí, liền trúng Hội nguyên và Đình nguyên, vừa đúng 27 tuổi (1865). Đó là một vinh dự đặc biệt hiếm có. Vì vậy, đương thòi đã tặng cho ông danh hiệu Tam nguyên VỊ Xuyên (vừa 27 tuổi, chỉ trong 2 năm ba lần đỗ đầu bảng).

Khi duyệt xét quyển thi của Trần Bích San, vua Tự Đức đã khen nức nở. Ngày ông về vinh quy bái tổ, nhà vua đã ngự bút ban hiệu là Hy Tăng, ngụ ý sánh với Vương Tăng đòi Tống, cũng trúng Tam nguyên và tài ba lỗi lạc, văn chương trác tuyệt.

Năm 1867, Trần Bích San được sơ bổ làm tri phủ Thăng Bình rồi chuyển sang Điện Bàn – hai phủ lớn thuộc tỉnh Quảng Nam. Chỉ cách mấy tháng, ông được vinh thăng án sát Bình Định. Bình Định là tỉnh lớn nhất miên Trung, đất rộng người đông, đồng ruộng phì nhiêu, dân tíư trù phú, đồng thòi là nơi phát tích của nhà Tây Sơn, nên ngay sau khi Gia Long lên ngôi, hầu hết các quan lại lớn nhỏ đến trấn nhậm đều là tay chân thân tín của triều đình Huế. Bởi vậy đám quan lại trấn nhậm Bình Định tha hồ thừa gió bẻ măng, cấu kết lẫn nhau hà hiếp bóc lột dân đen. Khi Trần Bích San đáo nhận án sát Bình Định thì hồ sơ lưu trữ kiện cáo khiếu nại của dân chất cao như núi. Chính tại nơi đây, ông mới tỏ rõ hết đức tính công minh liêm chính và phát huy hết sự uyên bác của một vị đại nho. Cũng giống như Bàng Thống thời Tam quốic, chỉ trong một thời gian ngắn kỷ lục ông đã giải quyết hoàn toàn công bình tốt đẹp, xét xử phân minh tất cả hồ sơ tồn đọng. Chính vì thê mà ông rất được dân tin yêu và cũng vì thế, bọn tham quan ô lại ở Bình Định lại càng căm thù ông, xem ông như cái đinh trước mắt. Bọn chúng đã lập tâm hãm hại, vu cáo ông về kinh đô Huế.

Năm 1868, ông bị triệu về Huế, giáng cấp xuổng tri phủ. Nhưng sau đó ít lâu, Tự Đức xét rõ oan tình, cử ông vào chức phó chủ khảo, quyền Hộ bộ sự vụ, rồi quyền Lễ bộ sự vụ.

Sau ba lần đi lại qua đèo Hải Vân, ông cảm đề bài thơ tuyệt bút, được truyền tụng đến ngày nay:

Nhẹ bỗng mình chim lối Hải Vân,

Ba năm qua lại đủ ba lần.

Nửa con mắt ngó trần ai hẹp,

Sát ngọn cây trông nhật nguyệt gần.

Chửa dạn phong sương tài chửa luyện,

Không pha sơn thủy bút không thần.

Mây lồng cổ ngựa hoa đua nở,

Có hiểm gì đâu lối ải Tần!

Năm 1870, ông được cử đi sứ sang Trung Hoa để thương thuyết về việc thông thương với Hồng Kông. Năm 1872, về quê chịu tang cha trong 3 năm. Năm 1875, ông về kinh sung chức thị lang Bộ Lại và ít lâu sau được cử giữ chức tuần phủ Hà Nội.

ở chức tuần phủ Hà Nội, ông buộc lòng phải giao thiệp thường xuyên vối người Pháp và bọn tay sai xâm lược Pháp. Ong hết sức căm thù quân cướp nưâc sau vụ phó đô đốc Dupré thông đồng với Francis Garnier cùng tên lái buôn Jean Dupuis đánh chiếm thành Hà Nội ngày 20-11-1873, gây ra cái chết đau thương cho vị anh hùng dân tộc Nguyễn Tri Phương và sau đó buộc triều đình Huế phải ký hòa ước năm Giáp Tuất (1874).

Năm 1876, một lần phó thủy sư đô đốc Pháp Duperré, thống đốc Nam Kỳ ở Sài Gòn ra thăm ông. Y đem theo một con chó Tây mà y hết sức yêu quý. Vào công đường, ông vừa mời khách ngồi thì con chó cũng nhảy lên nằm trên ghế đối diện. Có lẽ quen thói hống hách mà chủ nó dạy, cho nên con chó vừa nằm chễm chệ vừa nghếch đầu sủa “thị uy” vang dội cả công đường.

Tuần phủ cho đó là dụng ý của quân xâm lược bắt chước theo đúng kiểu của Dupré, Francis Garnier và Jean Dupuis ra oai làm bỉ mặt mình nên ông giận tím mặt, bất giác sĩ khí bốíc lên ngùn ngụt, vội phủi áo đứng lên, quát lính hầu đem đập chết ngay con vật “hỗn xược”. Duperré cũng căm giận không kém, hầm hầm đứng dậy ra về…

Năm 1877, có cuộc đấu xảo ở Paris. Ngoài việc cử Nguyễn Thành Ý, lãnh sự ở Sài Gòn, đem sản vật sang Pháp, vua Tự Đức còn ngỏ ý muôn cử một phái đoàn sang Pháp tỏ tình hữu nghị. Duperré đồng ý, nhưng yêu cầu cử Trần Bích San, tuần phủ Hà Nội, làm chánh sứ. Thê là Tự Đức triệu ông về Huế thi hành sứ mạng. Khi biết rằng sứ bộ phải ghé Sài Gòn để gặp Duperré và đáp nhò tàu thủy sang Pháp, ông biết chắc tên Duperré nhất định sẽ làm nhục mình để trả thù. Trong cương vị chánh sứ, để hắn làm nhục thì sẽ nhục lây đến quôc thể. Mặt khác, ông không dám trái mệnh vua. Ong suy tính rất kỹ và chọn con đường tuẫn tiết. Trước khi tự vẫn ông có làm một bài thơ tuyệt mệnh.

Luống thẹn tài hèn, chí dở dang Sứ Tây, nay lại vượt trùng dương Khôn quên non biển, đường ân nghĩa Bao quản Đông Tăỳ lối dọc ngang Muôn dặm tàu đong qua nước lạ Mười năm Bên Nghé nhớ âu vàng Hoàng hoa vâng mệnh, e không tựu,

Nhờ có mưu sâu gửi miếu đường!

Sau đó, ông viết mấy hàng di biểu dâng lên tạ tội với vua rồi nuốt giấy bản để tự tử. Được tin, vua Tự Đức thương tiếc khôn cùng, truyền chỉ truy tặng hàm Lễ bộ tham tri, cho cấp tiền lụa, phẩm vật, đưa thi hài về quê hương mai táng. Nhà vua còn khóc ông bằng một bài thơ ngự chế:

Vừa ở Thăng Long tới Đế kinh Ngờ đâu vĩnh biệt phút thình lình Gác cao chờ đón buồn Văn đế,

Tuổi trẻ tài danh, khóc Giả Sinh.

Bảng quán ba trường uăn chói lọi Mai vừa nửa giấc gió tan tành.

Một đi Bác vọng khôn tim dấu,

Thiên mã tây sang lại giật mình!

Chí sĩ Hoàng giáp tam đăng Phạm Văn Nghị, một bậc thầy đạo cao đức trọng, cũng đã khóc học trò mình bằng một bài thơ xé ruột, được truyền tụng mãi đến ngày nay.

No comments.

Leave a Reply