CHU VĂN AN – NGƯỜI THẦY MẨU Mực CỦA MUÔN ĐỜI

CHU VĂN AN HAY CHU AN, HIỆU LÀ TIỂU Ẩn, người xã Quang Liệt, nay là Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông vốn tính ngay thẳng, ham đọc sách, tinh thông lý học, có tài văn chương. Thời vua Trần Anh Tông (1293-1314), ông thi đậu Thái học sinh (tức Tiến sĩ), nhưng không ra làm quan, mà chỉ ở nhà dạy học. Ông dựng ngôi trường tại làng Huỳnh Cung, ngay cạnh làng ông; học trò các nởi đến học rất đông. Chính dưới mái trường quê nổi tiếng này, ông đã đào tạo biết bao nhân tài cho đất nước, trong đó có những người có danh tiếng ở đời Trần như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát…

 

>>Luyện thi Violympic những mẹo hay nhất 2017

 

Thời Trần Minh Tông, khoảng niên hiệu Khai Thái (1314-1329), Chu Văn An được vời ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, một chức học quan coi ngôi trường cao cấp trong nước thòi bấy giờ. Đến triều Trần Dụ Tông (1341-1369), vua quan suy đồi, không còn giữ được phong khí của thời kháng chiến chống xâm lược. Ông dâng sớ xin chém bảy tên quyền thần, nhưng Dụ Tông không nghe. Ông liền từ quan, về quê dạy học như cũ. Sau đó, ông lại chuyển về vùng núi Phượng Hoàng, Chí Linh, tỉnh Hải Dương, tiếp tục dạy học và sông cuộc đòi ẩn dật, đúng như tên hiệu Tiều Ân (ông tiều ở ẩn).

 

>>Xem thêm tin tức giáo dục:Ở đây

 

Như vậy có thể nói cả cuộc đòi ông đêu gắn bó với công việc dạy học. Sự nghiệp lớn lao và vẻ vang nhất của ông là sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Ông để nhiều tâm huyết vào việc soạn sách giáo khoa, ông cũng có làm thơ, đặc biệt là thơ Nôm, ngoài ra ông còn viết cả sách thuôc… Nhưng đáng tiếc là tác phẩm của ông bị thất lạc hầu hết, hiện chỉ còn một số ít ỏi thơ chữ Hán. Sô” thơ tuy ít nhưng đều là những bài hay, thể hiện tâm hồn thanh cao của một bậc hiền triết.

Ngư du cổ chiếu long hà tại?

Vân mẫn không sơn hạc bất quy.

(Cá bơi ao củ, rồng đâu tá?

Mây phủ non hoang, hạc chẳng về),

Đó là hai câu trong bài Miết trì (Ao ba ba). Ông ngắm cảnh Ao ba ba trên núi Phượng Hoàng mà chạnh lòng thương cảm thời thế. Hình ảnh rồng, hạc, hình ảnh vua sáng, tôi hiền, hình ảnh người quân tử cao đẹp thì vắng bóng, chỉ thấy những bóng dáng thấp hèn, lũ cá tép, bọn gian nịnh thì vẫn nhởn nhơ đi lại…

Thơ Chu Văn An đại để đều là những cảm xúc lớn của một tâm hồn lớn như thế.

Sử sách cũ nói nhiều đến “học vấn tinh thần” của ông, song uy tín của ông không chỉ ở tài học, mà chủ yếu còn ở tiết tháo làm người. Ông dạy học rất nghiêm, coi trọng đạo làm người, vì thê không những học trò mà nhân dân và giới trí thức đương thời đều kính mến ngưỡng mộ ông, coi ông như núi Thái Sơn, sao Bắc Đẩu của kẻ sĩ.

Phạm Sư Mạnh, Lê Quát làm quan to trong triều mà vẫn lấy vinh dự được quỳ gôi bên giường mỗi khi về thăm thầy Chu. Song cả vối những học trò đã thành đạt mà có lỗi lầm, thầy Chu cũng vẫn nghiêm khắc răn dạy. Tương truyền có lần Phạm Sư Mạnh, bấy giò đang làm Nhập nội hành khiển, tức là chức quan gần như Tể tướng, về thăm thầy Chu. Gặp ngày phiên chợ người đông, quân lính thét loa vung roi mở đường cho kiệu quan Hành khiển, huyên náo, ồn ào như vỡ chợ. Thầy Chu biết việc đó, đã chỉ vào mặt Phạm mà mắng rằng: “Vê thăm thầy mà làm náo động cả bàn dân thiên hạ thì ta còn mặt mũi nào ngẩng nhìn mọi người”. Rồi ông phủi áo bỏ vào nhà trong. Phạm Sư Mạnh vừa sợ thầy vừa hổi hận, cứ quỳ gối bên giường chờ thầy tha lỗi rồi mới về. Từ đó, mỗi khi thăm thầy, Phạm chỉ mặc áo vải thâm đi một mình như người thường…

Sau khi Chu Văn An mất, dân làng đã lập đền thờ, gọi là đền đức Thánh Chu, suốt mấy trăm năm nay ở đó vẫn thường nghi ngút khói hương.

Tài đức thầy Chu lừng lẫy một thòi, chẳng những đi vào sử sách mà còn đi vào ký ức dân gian như một huyền thoại. Sách Lĩnh Nam chích quái còn ghi lại truyền thuyết dân gian và “Thần châm Lân Đàm” phản ánh sự nghiệp dạy học của thầy Chu.

Tục truyền có một thần Rồng ở trong đầm làng, mộ tiếng thầy Chu, thường hiện thành một chàng trai trẻ tới trường Huỳnh Cung học tập. Có người rình biết mách với thầy. Gặp năm đại hạn, ruộng đồng nứt nẻ, lúa má cháy khô, nhân dân hết sức lo buồn. Thầy Chu bèn gặp riêng anh học trò kia mà bảo làm mưa đê cứu trăm họ. Anh học trò liền đáp: “Việc mưa nắng là mệnh tròi không ai dám phạm, nhưng lệnh thầy con không dám cãi”. Rồi anh ta cầm bút nhúng vào nghiên mực mà vẩy tứ tung lên khoảng không. Trong chớp mắt, mưa đổ xuống ào ào đồng lúa trở lại xanh tốt; ao hồ ngập nưốc, người vật thỏa thuê. Nhưng rồi có tiếng sét đánh, và sáng hôm sau ở đầm làng có xác thuồng luồng chết nổi lềnh bềnh. Thầy Chu biết là anh học trò Long Cung đã vì thầy vì dân mà hy sinh. Thầy vô cùng thương tiếc, bèn cùng dân làng vốt xác thuồng luồng, làm lễ an táng chu đáo. Nay ở ngoài lũy ven làng còn mả, tục gọi Mả Thuồng Luồng, tên chữ là: Cù Long Phụ. Trưốc đây, nhân dân vẫn tin rằng, hễ đại hạn cứ đến cầu ở Cù Long Phụ hoặc đền đức Thánh Chu ắt có mưa.

Đó chẳng qua là truyền thuyết về thầy Chu đã đồng hoá vối cổ tích thần kỳ phản ánh ma thuật cầu mưa của dân gian cổ xưa. Nhưng qua màn sương huyền ảo, cũng cho thấy truyền thống tôn sư trọng đạo rất quý báu của nhân dân ta đối với một thầy giáo tài cao đức trọng, một người thầy mẫu mực của muôn đời.

No comments.

Leave a Reply