Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Thiốn Ya Na

Ngày đầu năm và cuối năm. tại một số đền miếu thò Thiên Hậu có tục vay tiền Bà vào đầu năm, tức dịp tét Nguyên tiêu (rằm tháng giêng) và lễ trả vào tháng chạp. Ngày đó, tại các miếu thò Bà, nguòi ta chuẩn bị sẵn các loại tiền có mệnh giá bình thường, 200, 500, 1000, 2000, 5000 đ, có cá tiền 5 đổla Mỹ, các loại tiền được đặt trong các phong bao mầu đỏ.

>Khóa học luyện thi Violympic toán lớp 8

Loại có mệnh giả cao hơn thì việc cho vay dược ban tổ chiíc chọn lọc kỹ hơn. Tử sáng sớm, người ta đến cúng bà và xin vay tiền, nhũng người vay dược ban tố chức ghi vào sổ. Trước kia ỏ Cà Mau có hiện tượng vay Bà bằng dưa háu, nay tục này đã bỏ. Khi trả tiền vay vào cuối năm, thường người ta trả gấp 2,

  • thậm chí rát nhiều tuỳ thuộc năm dó người ta làm ăn buôn bán lãi nhiều hay ít. Thường không có ai vay Bà mà không trả, vì như vậy là thất tín, rất sọ Bà trủng phạt.

>>Chia sẻ các bài giảng hay:Xem tại đây

Ngày Lễ hội lón nhắt là ngày vía bà 23 tháng 3, tuong truyền là ngày Bà giáng sinh. Có thể nói rằng, trong hầu hết các truồng hợp thò Nủ thần, Mẫu thần, Thánh mẫu đều tổ chức lẽ vía vào dịp tháng

  • theo tâm thức dân gian “Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ”. Như chúng tôi đã nói ỏ trên, dù hình tượng Thiên Hậu Thánh mẫu, Liễu Hạnh Thánh Mẩu, Thiên Y Thánh Mầu hay Chúa Xiỉ Thánh Mẩu, Linh Sơn Bà Đen Thánh Mẩu, có thể xuất phát tù con người thật nào đó, sau hiển linh và ngưòi đỏi sau xây dựng thành hình tượng Thánh Mầu, thì thòi điểm tháng 3 là thòi điểm mang tính mô thức. Theo triết lý âm – dương Phương dông, tháng 3 là tháng vũ trụ đạt điểm “cực dương”, đo vậy, đổ hài hoà, giỗ Mẹ mang tính âm, cũng như vậy, tháng 8 là thòi điếm vũ trụ mang tinh cực âm, thì phải là giỗ Cha mang tính duơng. Đó là trict lý hàí hòa âm dương để dạt tới sự viêm mán, hòa hợp, hạnh phúc. Bới thế, quan niệm, xưa có câu “gái tháng hai trai tháng 8″ là quy luật sinh nỏ hợp mùa. Như vậy, không có gì ngạc nhiên khi mà các ngày lễ Mẩu đều rơi vào tháng dầu năm, đặc biệt là tháng 3, mà trong trường hợp này Thiên Hậu Thánh Mẫu cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Công viộc chuấn bị cho ngày lễ vía Bà 23 tháng 3 dược tiến hành một cách chu đáo trong những ngày trước, thông qua việc quyên góp tiền đế lễ Bà. Đây là công việc hoàn toàn tự nguyện, một dịp để mỗi người tỏ sự thành tâm đối với Bà. Nếu vì sự sơ xuất nào mà ai chưa được quyên góp, thi người ta thắc mắc và được giải quyết rốt ráo. số tiền quyên góp đều được ghi rành mạch trong số. ỏ Cà Mau, trong cộng đồng ngưòi Hoa, tiền quyên góp được đựng trong gió mây. Danh sách quyên góp sẽ là cơ sỏ để người ta phân phát lộc Bà bàng cóm và thịt lọn Ngoài ra, việc chuẩn bị các dồ cúng, như hoa quả, bánh trái, đèn nhang, thịt lọn quay là nhứng thứ khồng thê’ thiếu.

Việc trang trí đền miếu, trong đỏ việc sắm và treo đèn lồng là phong tục đặc trưng của người Hoa. Đèn lồng dược làm theo nhiều loại và kích cỡ khác nhau, trên đèn có ghi các câu chức tụng “Hoà khí sinh tài – Tiền trình nhu cám \ “Vạn sự như ý – Hoa khai phú quý”, “Phuóc ỉộc thọ hỷ – Thiên địa rĩhán hòa”, “Mén niên cát ỉợị – Thúy (húy phong minh”… Đó là những cây đòn Thánh đăng, được treo trước chính điện. Sau lỗ hội ban tổ chức đưa dèn ra bán đấu giá, tiền thu được nhập vào quỹ cứa miếu, còn người đấu giá được cây đèn thi đuợc rước đèn về nhà, coi như là phúc đúc ân sủng cứa Thánh Mẫu.

Nếu như ờ các dịp vía Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Thiốn Ya Na có nghi thức tắm tượng thay y trang cho Bà, thì ở các ngôi miếu Thiên Hậu chí có tục treo trang phục, mũ nón mới cho các linh tưọng được thà ỏ chính điện. Nhứng dồ thờ này vào đêm kết thúc đều đem hóa.

Hoạt dộng quan trọng nhất trong ngày vía Thiên Hậu ở các miếu là lỗ rước và lễ tế. Lễ rưóc được tiến hành có nét khác nhau

 

ỏ từng địa phương, từng đền miếu với sự tham gia của đông người vói trang phục ngày lễ, ruớc đèn lồng, chiêng trống, phường cổ nhạc…tạo không khí sỏi động trên đưòng rước, thể hiện SIỈC mạnh cộng dồng người Hoa ỏ địa phương.

Sau lễ rước là nghi lễ dâng phẩm vật lên Bà, gồm trà, rượu, đèn nhang, giấy chúc thọ, hoa (bông), bánh, ngũ quả, mỳ, bánh bò, cốm phuớc, ngũ sarìh (tôm, cua trứng, thịt lọn, thịt gà) và cuối cùng là văn sớ. Vào buổi tối, ngay trong sân miếu người ta tổ chức các hình thúc múa hát để dâng Bà, như ca cổ, tuồng… Các sinh hoạt văn hóa này không đon thuần là hoạt động vui choi giải trí cho cộng đồng trong ngày hội, mà còn là một hình thiỉc dâng củng, mua vui cho thần linh.

Như vậy là, trong môi trường giao lưu chủng tộc và văn hóa sổng động của Nam Bộ khoảng 300 nảm trỏ lại đấy giủa các cộng đồng ngưòi Khơme, Chăm, Việt, Hoa và Chăm, các cộng đồng bản địa cũng như các cộng đồng mói di cư đến, trên nền tảng văn hóa sẵn có của minh, đã diễn ra giao lưu ảnh hưởng sống dộng, tạo nên nhửng tương đồng, những nét thống nhất vãn hóa, tuy nhiên mỗi dân tộc vẫn gỉủ lại nhưng nét riêng, độc đáo của mình, trong đó hiện tượng thò Mẩu là nét nổi trội và điển hình nhất.

No comments.

Leave a Reply